04:04 EST Thứ tư, 29/01/2020
img_1523_1.jpg logo-truong.jpg img_2208.jpg img_2148.jpg img_1530.jpg img_2101.jpg img_2144.jpg img_1167_2.jpg

Liên kết Website

Trang nhất » Tin tức » Tổ chuyên môn

Lồng ghép bản sắc văn hóa nhìn từ Mỹ thuật

Thứ hai - 31/10/2016 21:27
Lồng ghép bản sắc văn hóa nhìn từ Mỹ thuật

Lồng ghép bản sắc văn hóa nhìn từ Mỹ thuật

Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) của Đảng đã nêu rõ: “bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa vun đắp nên lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, trở thành những nét đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng, gắn kết cá nhân, gia đình, làng nước lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa đạo lý, đầu óc thực tế, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống”. Như vậy bản sắc văn hóa có thể hiểu như yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc góp phần tạo nên bản lĩnh dân tộc tức là sức sống và sự từng trải của dân tộc. Nhờ đó mà dân tộc có thể vững vàng và trường tồn trước thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa dân tộc được hình thành, tồn tại và phát triển trong suốt lịch sử lâu dài của đất nước.
1. Đặt vấn đề:
Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) của Đảng đã nêu rõ: “bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa vun đắp nên lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, trở thành những nét đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng, gắn kết cá nhân, gia đình, làng nước lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa đạo lý, đầu óc thực tế, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống”.
             Như vậy bản sắc văn hóa có thể hiểu như yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc góp phần tạo nên bản lĩnh dân tộc tức là sức sống và sự từng trải của dân tộc. Nhờ đó mà dân tộc có thể vững vàng và trường tồn trước thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa dân tộc  được hình thành, tồn tại và phát triển trong suốt lịch sử lâu dài của đất nước.
       Kon Tum là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc cùng chung sống, đồng bào dân tộc ít người chiếm     khoảng 53,9%. Kon Tum có 6 dân tộc bản địa sinh sống lâu đời gồm : người Xơ Đăng cư trú phần lớn ở phía bắc và phía đông thuộc các huyện Tu Mơ Rông, Đăk Tô, Kon Plông…Người Ba Na cư trú ở phía nam thuộc thành phố Kon Tum, huyện Kon Rẫy, Đăk Hà. Người Giẻ Triêng cư trú ở 2 huyện Đăk Glei và Ngọc Hồi. Người Gia Rai cư trú ở huyện Sa Thầy và thành phố Kon Tum. Hai tộc người có dân số ít nhất là B’râu, cư trú trong một làng (làng Đăk Mế xã Bờ Y) huyện Ngọc Hồi và người Rơ Măm, cư trú tại làng Le xã Mô Rai ở huyện Sa Thầy. Ngoài ra còn các tộc người khác như HRê, Mường, Nùng, Tày, Thái, Sán Dìu, Sán Chay, Kor, Kờ Ho, Khơ Me, Chăm, Ê Đê, Cà Tu, Dao…từ các tỉnh di cư vào sinh sống trên địa bàn cư trú rải rác ở nhiều địa phương trong tỉnh.
      Kon Tum là một vùng đất mang đậm văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú, độc đáo mang bản sắc đặc thù, thể hiện ở các loại hình: Khảo cổ, văn hóa luật tục, văn hóa cư trú, nhà rông - nhà dài, văn hóa cồng chiêng và nhạc cụ dân tộc, diễn xướng dân gian, các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống, văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, ngôn ngữ-chữ viết, chạm khắc-hoa văn, họa tiết, dệt thổ cẩm, đan lát...
Trên lĩnh vực khảo cổ đã tìm thấy và khai quật di chỉ khảo cổ Lung Leng và di chỉ khảo cổ vùng lòng hồ Thủy điện Plei Krông với cả triệu hiện vật hết sức giá trị,  phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và tham quan tìm hiểu về văn hóa tiền sử Kon Tum nói riêng và Tây Nguyên nói chung. Đến nay Kon Tum có 5 di tích lịch sử- danh thắng cấp quốc gia: Di tích lịch sử Ngục Kon Tum; Di tích lịch sử Ngục Đăk Glei; Di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô-Tân Cảnh; Di tích lịch sử chiến thắng Plei Kần và Di tích danh thắng Măng Đen, 8 di tích lịch sử và văn hóa được xếp hạng cấp tỉnh. Một số công trình kiến trúc tôn giáo-tín ngưỡng khá độc đáo như : Nhà thờ gỗ, Đại chủng viện Kon Tum, Đình Võ Lâm, Đình Lương Khế, Đình Trung Lương, Chùa Bác Ái... đã và đang phát huy giá trị trong đời sống của nhân dân trong tỉnh. Bảo tàng tỉnh trong nhiều năm qua đã sưu tầm được hơn 20 ngàn hiện vật lịch sử- văn hóa có giá trị khoa học trên địa bàn tỉnh qua các thời kỳ.
  Bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa ở Kon Tum là cái cốt lõi, đặc trưng riêng được hình thành, tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử, giúp ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác; nó thể hiện trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống. Thông  qua các biểu hiện này chúng ta hiểu được nét đặc trưng độc đáo của cộng đồng dân tộc ở Kon Tum nói riêng và Tây nguyên nói chung, một vùng đất “đầy nắng và gió”, hai mùa rõ rệt, nét đặc trưng văn hóa dựa trên cơ sở nền “văn minh nương rẫy” khác nhau cơ bản so với “văn minh lúa nước” ở vùng đồng bằng. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, độc đáo; tuy nhiên, trong cái riêng đó nhiều nét tương đồng của sắc thái văn hóa vùng mà lễ hội dân gian là không gian văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, với các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, tồn tại cùng với không gian và thời gian, gắn kết kết cộng đồng, tồn tại và phát triển trong điều kiện địa lý-xã hội của từng địa phương. Bảo tồn những lễ hội của các dân tộc ít người trên cơ sở khai thác, phát huy và kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, loại bỏ những yếu tố lạc hậu để lễ hội thực sự là một không gian văn hóa cộng đồng là yêu cầu có tính cấp thiết trên địa bàn tỉnh.
        Bao trùm lên tất cả đời sống tinh thần của các dân tộc bản địa ở Kon Tum có lẻ là phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống biểu thị những quan niệm của họ về con người, về vũ trụ còn thô sơ chất phác nhưng họ rất tín ngưỡng, những nghi lễ quan trọng dù là phục vụ cho sản xuất hay đời sống tâm linh của con người đều trở thành những hội vui, cuốn hút sự tham gia của toàn thể cộng đồng thậm chí các dòng tộc khác như lễ cúng bến nước hay còn gọi là lễ uống nước giọt vào dịp cuối năm cũ hoặc đầu năm mới, lễ mừng lúa mới, lễ mừng nhà rông mới, lễ hội đâm trâu, lễ cưới cho người trẻ-lễ mừng thọ cho người già, lễ bỏ mả-pơ thi cho người đã khuất…. Mỗi lễ hội là một tổng thể nguyên hợp, tiêu biểu cho đời sống văn hóa của các dân tộc ở Kon Tum nói riêng và Tây nguyên nói chung. Như  vậy bản sắc văn hóa là thiêng liêng là quý giá, nó tạo nên đặc thù của một dân tộc nó hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài được đúc kết từ kinh nghiệm sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó vào máu thịt của con người. Nó tồn tại tự nhiên, không ép buộc nhưng đòi hỏi phải biết gìn giữ, bảo tồn và phát triển, cũng có thể nó biểu hiện ra bên ngoài nhưng cũng có thể ẩn sâu trong tâm hồn con người.
        Việc  gìn giữ, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung và của các dân tộc bản địa ở Kon Tum nói riêng là trách nhiệm của toàn xã hội, phải giáo dục cho thế hệ trẻ nhận thức đúng đắn và ý thức trách nhiệm trong việc  gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc.
2. Tìm hiểu về nhà trường:
Trường PTDTNT Kon Plông hiện có 49 CBVC. Trong đó có 30 giáo viên trực tếp giảng dạy, được biên chế thành 6 tổ chuyên môn, tổ văn phòng và tổ quản lý nội trú.
     Trường PTDTNT Kon Plông đóng chân trên địa bàn thuộc vùng đặc biệt khó khăn, nhà trường có hơn 97% học sinh là con em người dân tộc thiểu số. Vấn đề bản sắc văn hóa của các dân tộc bản địa, học sinh còn mơ hồ thậm chí rất nhiều em không biết khi hỏi về nét đặc trưng của dân tộc mình. Hiện nay nhà trường đang áp dụng tài liệu địa phương môn Mĩ thuật. Tuy nhiên nội dung chưa đi sâu vào nét đặc trưng của các dân tộc bản địa, chủ yếu nêu khái quát và những đặc điểm cơ bản, số tiết quá ít (1tiết/lớp/năm học) nên học sinh không có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu và khám phá nét đặc trưng của các dân tộc bản địa ở Kon Plông nói riêng và Kon Tum nói chung.
    Được sự quan tâm của Chi bộ, BGH nhà trường đã lãnh đạo chỉ đạo các hoạt động của nhà trường một cách kịp thời và hiệu quả. Đặc biệt chú trọng trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh. Chuyên môn nhà trường cập nhật kịp thời các văn bản hướng dẫn liên quan và mạnh dạn đổi mới chỉ đạo công tác chuyên môn, hướng dẫn cho các tổ chuyên môn, giáo viên bộ môn cập nhật thông tin, điều chỉnh PPDH cho phù hợp với đối tượng và thực tế địa phương. Đồng thời phải thực hiện việc đổi mới theo chủ trương của ngành một cách có hệ thống, khoa học và thường xuyên.
     Đội ngũ giáo viên nhà trường trẻ, yêu nghề, nhiệt tình, trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn; giáo viên cập nhật kịp thời chủ trương đổi mới trong công tác giảng dạy, số lượng giáo viên tham gia thi chuyên đề tích hợp liên môn, thi GVG, viết SKKN, làm ĐDDH… ngày càng tăng và có chất lượng hơn.
      Đa số học sinh người dân tộc thiểu số, sống xa nhà, điều kiện kinh tế khó khăn, phần lớn học sinh ngoan, hiền và có ý thức tốt trong học tập và rèn luyện.  Trang thiết bị phục vụ dạy-học các môn học khá đầy đủ. Riêng bộ môn Mỹ thuật còn thiếu tài liệu tham khảo, phòng thực hành, trưng bày sản phẩm của học sinh. Hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm các bộ môn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của nhà trường. Đối với bậc THCS có khoảng 98% là học sinh dân tộc thiểu số.  Học sinh ăn ở, sinh hoạt ở KTX của nhà trường, xa gia đình nên một phần ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em. Tuy nhiên chất lượng học tập của học sinh trong những năm học qua còn thấp.
    Công tác giảng dạy và giáo dục học sinh, lãnh đạo nhà trường quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên có điều kiện học tập, rèn luyện, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Nhà trường đầu tư trang bị cơ sở vật chất phục vụ dạy-học khá đầy đủ.
   Chuyên môn nhà trường thường xuyên dự giờ thăm lớp, kiểm tra hồ sơ giáo viên, hướng dẫn giáo viên bổ sung sai sót kịp thời. Nhà trường tổ chức thi giáo viên giỏi hàng năm. Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia tập huấn các chuyên đề, viết SKKN, làm ĐDDH … có chất lượng.
     Đội ngũ giáo viên thực hiện tốt quy chế chuyên môn, phần lớn giáo viên sử dụng thành thạo phương tiện dạy học hiện đại.
      Học sinh đa số là con em người dân tộc thiểu số, rất thích học các môn năng khiếu nên giáo viên trực tiếp giảng dạy có nhiều thuận lợi trong việc truyền thụ kiến thức cũng như tổ chức giờ học.
     Tuy nhiên nhà trường đóng chân trên địa bàn thuộc vùng đặc biệt khó khăn, đời sống của nhân dân khó khăn vất vả nên không đủ diều kiện đầu tư cho con em học tập bộ môn. Cơ sở vật chất phục vụ dạy-học bộ môn còn thiếu. Do đó các em “học chay” qua SGK và hướng dẫn của giáo viên, học sinh chưa phát huy được sự tìm tòi sáng tạo từ tài liệu tham khảo và các hoạt động trải nghiệm thực tế. Giáo viên giảng dạy bộ môn, truyền thụ kiến thức còn theo lối truyền thống, chưa thật sự khai thác được năng khiếu sẵn có của các em. Học sinh chưa mạnh dạn trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo. Hơn nữa, học sinh còn thụ động, rụt rè, chưa mạnh dạn thảo luận, trao đổi. Giáo viên chưa tạo “sân chơi cho các em để các em “tự do” “khám phá” cuộc sống quanh em và kiến thức ở địa phương
 Trường chỉ có 1 giáo viên mỹ thuật nên việc dự giờ, góp ý, rút kinh nghiệm gặp nhiều khó khăn. Mặt khác một số giáo viên và học sinh còn xem nhẹ bộ môn. Hàng năm Đoàn trường tổ chức cho học sinh vẽ tranh về các chủ đề mang tính thời sự nhưng chưa đồng bộ và chất lượng chưa cao.
Hiện nay huyện Kon Plông chưa có phòng trưng bày mỹ thuật dân gian các dân tộc Kon Tum. Hoạt động trải nghiệm thực tế cho học sinh ở địa phương chưa được chú trọng nên việc tổ chức cho học sinh tham quan, hoạt động trải nghiệm thực tế gặp khó khăn. Khu du lịch sinh thái Măng Đen có nhiều cảnh đẹp và các di tích lịch sử nhưng giáo viên dạy Mĩ thuật chưa có kế hoạch trình lãnh đạo nhà trường tổ chức cho học sinh tham quan và các hoạt động trải nghiệm thực tế.
          Mặt khác nhà trường thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Kon Plông nhưng học sinh vẫn còn thụ động, chưa thật sự mạnh dạn và chưa nhận thức đúng đắn về giá trị bản sắc văn hóa các dân tộc Kon Tum. Vì vậy việc lồng ghép bản sắc văn hóa nhì từ Mỹ thuật của dân tộc bản địa Kon Tum vào bài giảng Mỹ thuật ở các trường PTDTNT là rất cần thiết.
 
3. Phương thức lồng ghép:
      Bài viết này giúp giáo viên chủ động, linh hoạt hơn trong soạn giảng và điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng và thực tế địa phương. Giáo viên chủ động, linh hoạt trong soạn giảng phù hợp với đối tượng và thực tế địa phương. Đồng thời giáo viên có cơ hội tiếp cận và tổng hợp được kiến thức, tài liệu liên quan để làm tư liệu phục vụ cho dạy học và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân.
     Giúp học sinh yêu thích môn học hơn, đồng thời các em hiểu và có ý thức trong việc bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc bản địa ở Kon Tum. Rèn luyện cho học sinh cách quan sát, cảm nhận và thể hiện sản phẩm (bài vẽ) có chất lượng. Đồng thời học sinh có cơ hội được tham gia các hoạt động và trải nghiệm thực tế. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy-học và giáo dục học sinh tốt hơn. Phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tìm tòi và “tự do” khám phá về nét đặc trưng của dân tộc bản địa Kon Tum (phong tục tập quán, trang phục, lễ hội, các vật dụng trong sinh hoạt, trong sản xuất và trong đời sống tâm linh…)của học sinh. Học sinh có cơ hội được khám phá, được trải nghiệm thực tế và thể hiện những gì các em được nhìn thấy, được cảm nhận, được gần gủi… một cách chân thực và hiệu quả nhất. Qua đó giúp các em có hứng thú học tốt các môn học khác.Tạo “sân chơi” cho học sinh, giáo viên đóng vai trò như ‘người anh, người chị” để các em ‘tự do” khám phá và thể hiện; tạo sự gần gủi, thân thiện giúp đỡ học sinh tiến bộ.
Nội dung lồng ghép: Một số thông tin về trang phục, lễ hội, phong tục tập quán, dụng cụ sinh hoạt và sản xuất…của dân tộc bản địa (nội dung này có trên trang web UB dân tộc Việt Nam, tài liệu địa phương và một số tài liệu chính thống liên quan) gắn liền với nền “văn minh nương rẫy” của các dân tộc bản địa ở Kon Tum nhìn ở góc độ Mỹ thuật.
Việc lồng ghép “bản sắc văn hóa” các dân tộc bản địa ở Kon Tum nhìn ở góc độ Mĩ thuật vào bài giảng Mĩ thuật THCS nhằm giúp học sinh hiểu được bản sắc văn hóa của các dân tộc bản địa, đồng thời giáo dục học sinh có ý thức về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc bản địa Kon Tum nói riêng và cộng đồng dân tộc ở Kon Tum nói chung. Lồng ghép “bản sắc văn hóa” nhìn ở góc độ Mĩ thuật chủ yếu vào các bài vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh.
Lồng ghép vào bài vẽ theo mẫu: Các dụng cụ sinh hoạt và sản xuất như cái gùi, quả bầu, ghè rượu… của các dân tộc bản địa vào hoạt động một-quan sát nhận xét (có thể thay mẫu vẽ có hình dáng tương tự). Đối với mẫu vẽ, giáo viên có thể linh hoạt tận dụng mẫu vẽ có sẵn ở địa phương. Giáo viên căn cứ vào từng bài vẽ theo mẫu và liệt kê cụ thể từng dụng cụ của các dân tộc bản địa để lồng ghép cho phù hợp. Không nhất thiết bài vẽ theo mẫu nào cũng lồng ghép (có thể lồng ghép 2 đến 3 bài/lớp/năm, mỗi bài lồng ghép 1 đến 2 dụng cụ là hợp lý nhất)
          Lồng ghép vào bài vẽ trang trí: Các hoa văn trên trang phục, ghè rượu, cây nêu, các dụng cụ sinh hoạt, đồ trang sức… của dân tộc bản địa vào hoạt động 1-quan sát nhận xét và hoạt động 3- phần tham khảo.  Giáo viên lựa chọn và sắp xếp cho phù hợp với bộ môn và đối tượng học sinh. Mỗi bài nên lồng ghép một vài thông tin và họa tiết của một dân tộc. Vì cơ bản vẫn đảm bảo kiến thức trong sách giáo khoa, phần lồng ghép chủ yếu mở rộng, giáo dục học sinh và định hướng cho các em có sự tìm tòi sáng tạo để thể hiện bài vẽ chứ không bắt buộc học sinh thực hiện theo nội dung lồng ghép. Giáo viên có thể sử dụng hình ảnh, clip, tranh ảnh, mô hình liên quan để lồng ghép vào bài giảng cho hấp dẫn lôi cuốn học sinh.
Lồng ghép vào bài vẽ tranh: Các phong tục tập quán, lễ hội, sinh hoạt, phong cảnh buôn làng…của các dân tộc bản địa Kon Tum vào hoạt động 1-tìm và chọn nội dung đề tài và hoạt động 3-phần tham khảo. Giáo viên sưu tầm tài liệu; chọn lọc nội dung, tranh ảnh, clip liên quan để lồng ghép vào bài giảng sinh động, hấp dẫn và lôi cuốn học sinh. Giáo viên liên hệ thực tế và định hướng cho học sinh một các rõ ràng, có hệ thống để học sinh mạnh dạn, tự tin vẽ tranh về dân tộc mình. Tuyệt đối không bắt buộc học sinh vẽ tranh theo những nội dung mà giáo viên lồng ghép mà là những thông tin định hướng tốt để học sinh “tự do”, “khám phá” và sáng tạo cho bài vẽ của mình.
Để làm tốt việc lồng ghép bản sắc văn hóa vào bài giảng yêu cầu nhà trường phải tạo điều kiện cho giáo viên đi tìm hiểu thực tế và sưu tầm nét đặc trưng các dân tộc bản địa ở Kon Tum, trang bị các thiết bị cần thiết phục vụ dạy-học bộ môn. Quan tâm hơn nữa đến đặc thù bộ môn, phát huy vai trò của bộ môn trong việc giáo dục học sinh.
Đồng thời hưởng ứng các cuộc thi vẽ tranh các cấp, tạo điều kiện và khuyến khích học sinh tham gia.Nhà trường nên thành lập đội cồng chiêng học sinh để tập luyện và tham gia thi các cấp, đồng thời giáo dục học sinh về giá trị văn hóa dân tộc tốt hơn. Phối hợp với huyện đoàn tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế ở địa phương. Qua đó giáo dục học sinh ý thức tự lập, tinh thần tập thể và rèn luyện kỹ năng sống.
Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung chương trình, từng bài học cụ thể để có phương án lồng ghép ngay từ đầu năm học. Thời lượng lồng ghép phải phù hợp, phải đảm bảo lượng kiến thức trọng tâm trong SGK.  Sưu tầm, chọn lọc nội dung về “bản sắc văn hóa” các dân tộc bản địa Kon Tum phù hợp với đối tượng học sinh, thực tế ở địa phương  và nội dung bài học. Phải linh động, sáng tạo trong việc lồng ghép bản sắc văn hóa vào tiết học, không khô cứng, bắt buộc mà tạo “sân chơi” để các em “tự do” khám phá, tìm tòi và sáng tạo. Giáo viên chỉ định hướng, hướng dẫn-học sinh chủ động học tập bộ môn.
Nội dung và hình ảnh lồng ghép phải trích dẫn cụ thể của từng dân tộc. Nên lồng ghép vào hoạt động 1 và hoạt động 3 trong bài học, không nhất thiết bài nào cũng lồng ghép. Giáo viên có thể sưu tầm mỗi dân tộc bản địa một file ảnh và một clip về “bản sắc văn hóa” để tiện trong việc khai thác và sử dụng (lưu ý thời lượng cho mỗi clip khoảng 2-3 phút).
          Xây dựng hệ thống câu hỏi cho phần lồng ghép để khai thác kiến thức hoặc củng cố kiên thức hoặc làm sơ đồ tư duy…. Sau bài học học sinh có thể hiểu được giá trị bản sắc của dân tộc mình hay dân tộc bản địa ở Kon Tum. Chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh.
          Phải nắm bắt và hiểu được đặc điểm tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số là ít nói, thụ động, tự ti…, giáo viên tạo niềm tin, quan tâm, than thiện và gần gủi để các em mạnh dạn, phát huy năng khiếu và chủ động trong học tập bộ môn.
          Đánh giá kết quả học tập của học sinh trên tinh thần động viên, khích lệ, tạo không khí than thiện để học sinh tự nhận xét và đánh giá bài vẽ với nhau.
Ngoài các dụng cụ học tập bộ môn, học sinh phải sưu tầm tranh ảnh, vật dụng, tư liệu về bản sắc của dân tộc mình và các dân tộc bản địa ở Kon Tum. Tham gia các hoạt động trải nghiệm và các hoạt động bộ môn mà giáo viên yêu cầu
Xây dựng kế hoạch học tập bộ môn một cách khoa học phù hợp với khả năng và hoàn cảnh ở địa phương, phát huy tinh thần tập thể và sáng tạo linh hoạt trong học tập bộ môn
Trên đây là một số giải pháp lồng ghép bản sắc văn hóa nhìn ở góc độ mĩ thuật của các dân tộc bản địa ở Kon Tum vào bài giảng Mĩ thuật tại trường PTDTNT Kon Plông giúp cho giáo viên giảng dạy Mĩ thuật ở các trường có học sinh dân tộc thiểu số tham khảo và vận dụng nhằm cải thiện chất lượng dạy-học bộ môn.
Đây là giải pháp khá mới đối với học sinh dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn. Chính vì vậy phải thực hiện trong thời gian dài để học sinh làm quen dần và khai thác triệt để nội dung cần lồng ghép nhằm lôi cuốn, hứng thú học tập và giáo dục học sinh tốt hơn.

Tác giả bài viết: GV:Đinh Văn Tính

Nguồn tin: BBTWS

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Thành viên

Khảo sát

Cảm ơn bạn đã ghé thăm website của chúng tôi. Hãy cho chúng tôi biết bạn là :

Học sinh

Cựu học sinh

Thầy Cô giáo

Cựu giáo viên

Phụ huynh học sinh

Khách

Thời khóa biểu

Đang truy cậpĐang truy cập : 9

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 8


Hôm nayHôm nay : 1062

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 28100

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 729619